Khoa học và nghệ thuật có những khoảng giao thoa kỳ diệu. Cả hai đều mang ý nghĩa của hành trình khám phá. Cả hai bao hàm các ý tưởng, lý luận và giả thuyết được kiểm nghiệm ở nơi trú ngụ của trí óc, trái tim và đôi tay: phòng thí nghiệm và studio. Các nghệ sĩ cũng như những nhà khoa học, nghiên cứu các tài liệu/nguyên liệu, con người, văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng, thần thoại và chuyển thông tin thành những chân lý kỳ diệu.
Trong tiếng Hy Lạp cổ, từ để chỉ nghệ thuật là “techne”. Đó chính là gốc của các từ “technique” (kỹ thuật, kỹ xảo) và “technology” (công nghệ) - những điều kiện để có thể thực hành các công việc mang tính khoa học và nghệ thuật.
Từ nghệ sĩ của một trào lưu vĩ đại...

Một tổng hợp đầy ngẫu hứng về Leonardo da Vinci và các tác phẩm tiêu biểu của ông. (Nguồn: thoo.com.br)
Leonardo da Vinci, họa sĩ và nhà phác thảo giai đoạn đỉnh cao của thời kỳ Phục hưng, nổi tiếng là một nghệ sĩ mà các tác phẩm của ông mang đầy màu sắc khoa học. Leonardo da Vinci quan sát thế giới một cách tỉ mỉ, đồng thời nghiên cứu sinh lý học và khoa giải phẫu để tạo nên những hình ảnh có sức thuyết phục về hình thể con người.
Ông tin rằng ý nghĩa đạo đức và lương tâm trong những bức tranh của ông sẽ chỉ hiện lên qua hình dung chính xác của dáng điệu và sự biểu lộ của con người. Với nghệ sĩ Cơ-đốc giáo này, khoa học và nghệ thuật là những con đường khác nhau dẫn tới một điểm đến chung – một chân lý thiêng liêng.

Tác phẩm "Phác họa về tử cung và bào thai" của Leonardo da Vinci. (Nguồn: ibiblio.org)
“Phác họa về tử cung và bào thai” (1511-1513) là một trong vài ngàn bức họa mà ông vẽ trong cảm hứng khám phá miền giao thoa giữa nghệ thuật tính và khoa học tính. Những bức vẽ đặc biệt này được sùng kính như những ví dụ mẫu mực cho sự tích hợp tất cả các ngành trong khái niệm Phục hưng.
... tới nghệ sĩ của một xứ sở ưa khám phá

Tác phẩm “Nhà Thiên văn học” (1668) của họa sĩ người Hà Lan Johannes Vermeer là một ví dụ khác về mối liên hệ sâu sắc giữa khoa học và nghệ thuật. Ở Hà Lan thế kỷ thứ 17, người ta mang một tinh thần ưa khám phá.
Lưu tâm tới thế giới này và vũ trụ bao la hơn ngoài kia, lưu tâm tới sự thân thuộc và cả những xa xôi ngoại lai, họ mải mê quan sát và khám phá. Cũng nơi đây vào đầu thế kỷ 17, kính hiển vi và kính viễn vọng đã được phát triển bước đầu tiên. Bức vẽ của Vermeer họa lại hình ảnh một nhà thiên văn. Chính tác phẩm ấy cũng là lời ca ngợi công việc của những người nghệ sĩ với chất liệu/nguyên liệu/tài liệu của họ.
Bức tranh được treo trên tường trong tác phẩm này là sáng tạo của một nghệ sĩ bản địa; tấm thảm Trung Đông phủ trên bàn được dệt dưới bàn tay của một nghệ sĩ nước ngoài; phần sơn dầu của riêng Vermeer (được trộn lẫn giữa màu tự nhiên của đất và các khoáng chất với dầu lanh) và bút lông là do những người thợ thủ công của địa phương sản xuất.
Quả địa cầu mà nhà thiên văn học đang chăm chú nghiên cứu là minh chứng cho sự gắn bó giữa khoa học và nghệ thuật được nhấn mạnh hơn cả, bởi nó cho thấy nhà thiên văn học này – và những gì thuộc về văn hóa của ông – đã kết nối được sự yêu thích những đồ vật thủ công tinh xảo với khoa học, chẳng hạn như khoa nghiên cứu bản đồ và thiên văn học.
Khoa học trong màu sắc của hội họa thế kỷ 19
Vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, sinh lý học, tâm lý học, và hiệu quả có thể nhận thức bằng giác quan của màu sắc và ánh sáng là mối quan tâm lớn nhất của các nghệ sĩ Ấn tượng và Hậu Ấn tượng như Edgar Degas (1834-1917), Vincent van Gogh (1853-1890), Auguste Renoir (1841-1919), Paul Gauguin (1843-1903) và Claude Monet (1840-1926).
Được coi là họa sĩ tự nhiên vĩ đại nhất trong lịch sử nghệ thuật hiện đại, Monet cho rằng cảm xúc của con người trước môi trường vật lý xung quanh thay đổi liên tục cùng với những nhận thức về ánh sáng và màu sắc.
Trong tác phẩm Bên bờ sông Seine, Bennecourt (1868), một bức họa mà người nữ trong đó chính là vị hôn thê của Monet, Monet đã nắm bắt được một cảm giác thoáng qua về cảnh vật bằng bút pháp phóng khoáng và bố cục độc đáo của mình.
Cảm giác mà bức tranh mang lại là cảm giác tiền nhận thức – tức là trước khi trí óc ghi nhận và chuyển những gì nó thấy thành ký ức. Người đàn bà trong bức họa không nhìn về phía ngôi nhà và những hàng cây dọc bờ sông, mà nhìn vào những lay động phía dưới rặng cây và bạt ngàn gợn sóng lấp lánh trên mặt sông, một phối cảnh lặp lại quá trình nhận thức chính nó.
Những hình ảnh trong khung của ánh sáng đập vào mắt, trên một tổng thể hoàn chỉnh với phông nền là cảm giác chủ đạo. Khi ánh sáng xuyên qua, nó bị nghịch chuyển và phản chiếu lên mặt sau của tổng thể những xúc cảm từ ánh sáng- nơi não xử lý thông tin.
Hội họa của Monet nắm bắt những rung động giữa cảm giác và tri giác – nói cách khác, bằng cây cọ và sắc màu của mình, ông đoạt được những khoảnh khắc ngẫu nhiên. Những ngẫu nhiên ấy truyền đạt một cảm xúc run rẩy - khi ánh sáng và màu sắc của cảnh vật luân chuyển và thời gian thì cứ trôi đi.
Vài năm sau khi tác phẩm Bennecourt của Monet ra đời, Georges Seurat bắt đầu vẽ bức Ngày Chủ nhật ở La Grande Jatte – 1884 (1884-1886). Là sinh viên mỹ thuật của Học viện Mỹ thuật ở Paris, ông nghiên cứu thuốc màu, và bức tranh rực rỡ này là một bài tập của lý thuyết màu sắc.
Không giống như các nghệ sĩ Phục hưng và Hà Lan, Seurat và Monet không pha trộn màu dầu. Họ tận dụng thành tựu của các nhà hóa học người Pháp đầu thế kỷ 19, những người đã sáng chế ra cả sơn trộn sẵn đóng vào các tuýp và các chất màu dạng tổng hợp, ví dụ như màu xanh biếc (xanh biển đậm), thứ màu mà trước đây được làm từ đá da trời, và vì thế đó là chất màu đắt đỏ nhất. Seurat và Monet với những đồng tiền ít ỏi sẽ không thể có được thứ màu xanh ngắt ngập tràn trong những tác phẩm thực nghiệm của họ nếu không có những thành tựu khoa học đầu thế kỷ đó.
Sử dụng những loại sơn dầu mới này, Seurat sáng chế ra một kỹ thuật có tên là Pointilism [kỹ thuật vẽ tranh bằng những chấm li ti như một sự pha trộn màu] để nghiên cứu xem những màu liền kề nhau sẽ hòa hợp như thế nào khi ta nhìn bằng mắt thường.
Nhìn gần, bề mặt bức tranh của ông chứa hàng ngàn chấm nhỏ và nét, những vùng màu riêng biệt. Nhưng Seurat đã đặt những chấm màu bổ sung này kề nhau – tím và vàng, cam và xanh da trời, xanh lá cây và đỏ - vì thế, khi nhìn ở khoảng cách xa, chúng sẽ tương tác để tạo ra những màu sắc được pha trộn đầy ấn tượng và trở nên rộng hơn trong toàn thể các dạng hình. Đem phương pháp khoa học vào lý thuyết màu sắc và trải rộng biên độ tác phẩm, Seurat đã miêu tả được một phổ màu sắc được khổng chế bởi những đường bo đỏ và xanh…
Nhuệ Anh (tổng hợp tin247)