cổ vật tinh hoa
02/03/2009, 18:24
Một thị trường cổ vật đúng nghĩa: công khai, lành mạnh, trong sạch từ xưa đến nay ở Việt Nam chưa có, theo suy nghĩ của riêng tôi. Như vậy, hẳn đã tồn tại một thị trường thiếu lành mạnh và nên chăng phải xây dựng một thị trường chuẩn mực mang tầm vóc khu vực và quốc tế? Đó chính là những điều người viết muốn nhắn gửi, để rồi đây, trên lộ trình hội nhập, cột mốc ấy chắc chắn sẽ gây được sự chú ý của bạn bè quốc tế xa gần.
1. Những cuộc mua bán chui lủi và những cú lừa ngoạn mục
Thập kỷ 80 của thế kỷ trước, "thị trường" cổ vật sôi động ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Đồng..., những địa phương có nhiều di tích mộ, tháp cổ. Trong những phế tích tháp hay dưới lòng mộ Mường, Thái, người ta tìm thấy nhiều cổ vật quý hiếm, gồm đồ vàng, đồ bạc, đồ gốm sứ... mà những tiêu chí mách bảo, chúng đều là những đồ dùng của hoàng tộc, cung đình - chứng tích của một công trình tôn giáo quốc gia, một chủ nhân mộ là hoàng tộc hay liên quan tới hoàng tộc, mà bia ký còn ghi "Cẩm y vệ, Vĩnh Lộc hầu". Những đồ gốm vua ban tặng có chữ "xu phủ" khi ấy chẳng ai biết là đồ Nguyên hiếm quý, được bán với giá 7 chỉ vàng, trong bối cảnh phấp phỏng lo âu phải trả lại. Nhưng thông tin trở lại, nó được bán tới 30 lạng vàng. Rồi, một phù điêu Siva 7 lạng vàng, giá ban đầu vài chục triệu, lên tới 1,2 tỷ trước khi nó bị thu giữ. Hồi cố của những thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình, chuyện của 20 năm trước mà vẫn nóng hổi nuối tiếc, khi họ đào được một chiếc chum men màu thời Minh Gia Tĩnh tại một ngôi mộ. Tìm mãi mới có người mua, thì trời đã sập tối. Người bán mừng sẽ dấu được khuyết tật chiếc bình, vì lâu ngày dưới đất đã bị nứt tóc đôi chỗ. Người mua chẳng hề quan tâm, trả giá 1 lạng vàng. Người bán mừng hú vì bán được giá cao, không ngờ chiếc chum "bất thành khí" giá lại cao đến nhường ấy. Một tuần sau, cũng người thanh niên nọ lên tặng quà cho đám thanh niên dân tộc, vì anh ta đã bán được 5 lạng vàng chiếc chum và nói lại rằng, những vết nứt trên chiếc chum, anh ta có biết, nhưng không hề hấn gì với giá cả anh đã mua. Người ta bảo rằng, cổ vật ở Hòa Bình vào những năm 80 của thế kỷ trước, nhiều tới mức, phàm những gì nứt tóc đều bị coi là "bất thành khí", loại bỏ. Việc bán được chiếc chum là một trường hợp hy hữu. Thông tin đã không cho đám thanh niên biết rằng, đồ quý hiếm thì, dù có nứt tóc, mẻ vỡ cũng vô cùng giá trị.
Rồi một bộ sưu tập gốm sứ Hiệp An (Hải Dương) nổi tiếng, được thu về cho bảo tàng, nhưng còn sót lại đôi ba tiêu bản mới toanh như vừa sản xuất. Không ai biết được đó là đồ cổ thời Nguyên, với giá trị được coi là một trong những loại hiếm quý nhất thế giới hiện nay. Bản thân chủ nhà cũng không hay và người mua nó cũng không biết, trả đại 200.000đ, khoảng năm 1986. Lần mò, anh ta tìm đến một bà cụ sành điệu trong làng buôn bán cổ vật và ngã giá 8 lạng vàng. Băn khoăn, anh gọi thêm một nhóm khác, bán được 11 lạng, với sự quyên góp nhau từ dây chuyền, nhẫn và nhiều đồ trang sức khác mới đủ thanh toán. Cuối cùng chiếc đĩa bán tới giá 30.000 USD, lúc mà những người bình thường Hà Nội chưa biết mặt mũi đồng đô la là gì. Phỏng vấn chủ nhân xa xưa của món cổ vật ấy, mới biết đó là chiếc đĩa đường kính 40cm, vẽ "liên áp" - một đề tài phổ biến thời Nguyên, nhưng điểm đặc biệt, đó là đồ cung đình, hoàng tộc.
Thế kỷ trước, Việt Nam không có kỹ nghệ làm đồ giả cổ và việc giao lưu chưa rộng, nên đồ giả cổ bên ngoài vào ta không nhiều, theo đó, chưa có những cú lừa khiến dư luận bận tâm. Gần đây, do cổ vật khan hiếm, do nhu cầu xã hội tăng cao với sự xuất hiện nhiều nhà sưu tập mới, do buôn bán tiểu ngạch giữa Việt Nam và Trung Quốc mạnh mẽ hơn, nên xuất hiện nhan nhản đồ giả cổ, theo đó, không ít người khuynh gia bại sản.
Tôi có dịp vào thăm một nhà sưu tập, cả bốn tầng lầu ăm ắp "đồ cổ", nào là đồ gốm, đồ ngọc, đồ đồng..., kết quả của bao năm sưu tầm với số vốn bỏ ra hàng tỷ, do kinh doanh được từ nguồn tôm xuất khẩu. Ông say sưa giới thiệu và chúng tôi cũng say sưa nghe mà không dám phẩm bình, bởi đi cạnh ông, là người vợ ham mê, đã xuất hầu bao từ chính công sức của mình cho chồng sưu tầm. Tuy nhiên, quan sát kỹ để phân định rạch ròi giả thật trong hàng nghìn món đồ ấy, thì những cổ vật thật có lẽ không tới 1%. Vừa rồi, được thông tin từ các đồng nghiệp trong thành phố, dường như ông đã bắt đầu nhận ra mình bị lừa đảo bởi quá câu nệ vào tài liệu, sách vở mà ít cọ sát với thực tế đầy nghiệt ngã trong lĩnh vực này.
Một nhà sưu tầm đã quá cố, lúc sinh thời đã từng than thở với tôi rằng, ông đã từng bươn trải nhiều, nhưng đã bị lừa tới vài trăm triệu khi mua phải mười con dao găm cán hình người bằng đồng, làm giả dao găm Đông Sơn. Đầu tiên là một con, ông bán trôi chảy với giá 5000 USD. Khách mua động viên, có thể mua được với số lượng lớn. Tháng sau ông gặp hai con nữa và gần một năm ông có tới 10 con. Dịp khách quay trở lại Việt Nam cũng là lúc thông tin cho hay, con dao của ông là giả, khi đưa vào phòng thí nghiệm phân tích hợp kim đồng, không phải là đồng thời Đông Sơn.
Lại một tay buôn cổ vật được mệnh danh là "có sỏi" trong đầu, năm ngoái, bị một mụ đàn bà cao tay, lừa một món cổ vật giá tới hơn 1 tỷ đồng. Xem ảnh, mới biết đây là đồ copi thời Ân - Thương của Trung Quốc, được một bảo tàng của bạn phục chế theo tiêu chuẩn như thật. Gần đây, tôi có xem một tạp chí của Mỹ, nói rằng, một món đồ giả cổ được phục chế lại như thật, khiến cho các chuyên gia giám định, các máy móc phân tích hợp kim, quang phổ đều phải bó tay, thì giá của nó còn cao hơn cả đồ cổ thật. Lẽ đương nhiên, con thú "Ân - Thương" hơn 1 tỷ đồng nêu trên không đạt tới chuẩn mực ấy.
Có cả những hiện tượng "buôn trống đồng". Năm chiếc trống được thông tin trong nước và ngoài nước như là một phi vụ buôn bán trống đồng lớn nhất xưa nay ở Việt Nam, gây một ấn tượng mạnh tới dư luận công chúng. Nhìn những chiếc trống, chúng phảng phất Đông Sơn nhưng không phải Đông Sơn. Có những nhà nghiên cứu nổi tiếng nghi ngờ rằng, phải chăng đây là một loại hình mới của trống đồng mà chúng ta cần bổ sung cho nhận thức của nhà học giả Áo F.Heger trước đây? Chúng có thể có niên đại vào thời Đông Hán, thế kỷ I - III, bởi những hoa văn trang trí rất gần với tranh vách đá (Rock Paiting) có niên đại tương đồng ở Quảng Tây (Trung Quốc). Phân tích thành phần hợp kim theo phương pháp quang phổ định tính và định lượng, mới hay, chúng không có một chút phần trăm chì, thiếc, mà có rất nhiều phần trăm nhôm. Đó không phải là hợp kim đồng cổ, đó là đồng công nghiệp, đồng vỏ đạn.
Cơn sốt đồ gốm sứ xanh trắng Huế (Blue de Hue) bỗng dưng tăng nhiệt sau khi Huế được công nhận là di sản văn hóa thế giới, sau khi cuộc bán đấu giá thành công những món đồ tương tự tại Pari và sau những giá cả như mơ do mác hiệu hoàng tộc của nhiều món cổ vật đem lại. Lập tức lò Cảnh Đức Trấn Giang Tây (Trung Quốc) có tín hiệu trả lời. Hàng loạt đồ "Nội phủ thị trung", "Nội phủ thị hữu" "Khánh Xuân".v.v... được sản xuất đưa qua Việt Nam, gia công thêm cho có màu thời gian, đã khiến cho biết bao nhà sưu tập bị lừa gạt, với giá 2-3000 USD 1 chiếc đĩa đường kính 28-30 cm. Quả thật, sẽ vô cùng khó nhận biết, nếu người mua không hay sự "vô nguyên tắc" trong lối thư họa hiện nay mà xưa kia vua Lê chúa Trịnh đặt làm đâu phải thế ! Cũng trong cơn sốt đồ hoàng tộc triều Nguyễn này, còn một loại cổ vật nữa, đó là những đồng tiền bạc. Tiền bạc có ghi niên hiệu Tự Đức khá hiếm trong dân gian, nên giá cả của nó khá cao, khoảng 10-15 triệu một đồng. Gần đây, cũng lấy những đồng tiền bạc cũ như thế, người làm giả dập niên hiệu Tự Đức, khiến cho kỹ thuật ấy khác hẳn với kỹ thuật đúc, theo đó, người am tường dễ dàng nhận ra, song đã lừa được khá nhiều người sưu tập, trong khi giá trị thực của nó khoảng 1,5-2 triệu đồng. Tiền Việt Nam hiện nay, có đồng giá tới 30.000 USD. Vài đồng như vậy bị giả, quả là khuynh gia bại sản.
Có lẽ tôi đã hơi lạm dụng để đưa ra nhiều ví dụ, khiến bạn đọc không mấy hài lòng. Thế nhưng, đó như là một bối cảnh để đề cập tới sự cần thiết phải ra đời một thị trường cổ vật theo đúng nghĩa ở Việt Nam, với những lợi ích không chỉ khắc phục được thị trường chui lủi và tình trạng lường gạt như đã nêu, mà sẽ còn nhiều hơn thế dưới những cách nhìn khác nhau.
2. Một vài cuộc bán đấu giá công khai
Không phải gần đây, Việt Nam mới bán đấu giá cổ vật. Vài thập niên đầu của thế kỷ trước, khi người Pháp mở những hội chợ ở Hà Nội, Hà Đông, Nam Định..., ngoài những mặt hàng thông thường, cổ vật cùng được bán đấu giá và thu hút được sự quan tâm của công chúng. Những trống đồng Ngọc Lũ, thạp tám múi hoa nâu... hiện đang lưu giữ và phát huy ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, chính là những sản phẩm thu được từ những cuộc bán đấu giá ấy. Như vậy, việc trở lại bán đấu giá cổ vật hiện nay, có lẽ, không có mấy sự lạ lẫm, hơn thế, khá phù hợp với trào lưu chung của thế giới và nhu cầu ngày một tăng lên của mọi tầng lớp nhân dân.
Vì lẽ đó, một số hội cổ vật như Hà Nội, Thiên Trường, Thanh Hoa... đã bắt đầu khai mở với danh nghĩa khiêm tốn "giao lưu, trao đổi cổ vật" đầu xuân. Tôi cũng đã được chứng kiến một hai cuộc đấu giá từ các hội này và nhận ra rằng, cách làm của họ, chỉ như là một hình thức giao lưu thì có thể chấp nhận được. Nhưng, nếu coi đây như là những cuộc bán đấu giá, dù là thí điểm, còn rất nhiều vấn đề phải bàn. Chính vì lẽ đó, không ít báo chí đã có lời khen, chê, theo đó, đã có nhiều sự phân tán trong suy nghĩ của những người thực hiện, gây một sự hoảng loạn, thiếu tin tưởng ở tương lai. Là một người được chứng kiến, xin mạo muội đưa ra cái được và chưa được từ những cuộc "đấu giá" này. Theo tôi, mặt tích cực vẫn là chủ yếu. Cổ vật được đem bán công khai, theo đó, nguồn gốc, lý lịch là tương đối trong sạch, không phải là đồ lấy cắp từ các đình chùa, đền miếu: Các cổ vật đều được giám định, cho dù kết quả giám định còn phụ thuộc vào trình độ của người thực hiện, song đã không có đồ giả ở trong đó. Số tiền thu được, mặc dù chưa được đóng thuế, nhưng đã được đưa vào quỹ hội, quỹ nạn nhân chất độc màu da cam, quỹ người nghèo, quỹ nạn nhân sóng thần. Cả người mua lẫn người bán đều tự nguyện quyên tặng. Thông tin từ đấu giá đã cho các bảo tàng biết cần sưu tầm gì, các nhà quản lý cần điều chỉnh gì trong lưu thông cổ vật hiện nay. Tôn vinh được những người sưu tập thông qua "đấu giá" và chính họ là những người bảo quản, bảo tồn, lưu giữ, tránh sự chảy máu, thất thoát cổ vật ra nước ngoài. Nhân rộng được người sưu tập, tạo nên một khả năng vô tận để gìn giữ, bởi bất cứ một quốc gia nào, dù giàu có đến đâu, cũng không thể mua được tất cả cổ vật, nếu không trông chờ vào khả năng xã hội hóa này.
Bên cạnh mặt tích cực, cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Dường như sự chuẩn bị của Ban tổ chức chưa thấu đáo do thiếu kinh nghiệm lĩnh vực này, khiến cho khâu quảng bá, tiếp thị, giám định, trưng bày... hầu như không có trong một cuộc bán đấu giá, trong khi đây là những yếu tố vô cùng quan trọng dẫn đến thành công. Việc đặt giá cũng tùy tiện và thiếu tính hấp dẫn. Nghệ thuật bán hàng quá yếu, không tạo nên một sự sôi động cần thiết cho loại mặt hàng kén khách như cổ vật. Rất nhiều cổ vật có nguồn gốc khảo cổ học, theo luật định, không được mua bán, trao đổi, lẽ ra phải được loại bỏ hay hạn chế tới mức tối đa, nhưng Ban tổ chức chưa làm được.
Những hạn chế mà tôi lược dẫn trên đây là một tất yếu, xuất phát từ thiếu kinh nghiệm và kiến thức ở buổi đầu chập chững, với một cách làm "tự biên, tự diễn", không có một công ty trung gian, có chút ít kinh nghiệm thực hiện. Những công ty có lịch sử vài trăm năm như Christies, Sotheby, Butterfiled... không dám nói, nhưng ở Việt Nam, đã có, dù chưa chuyên nghiệp trong lĩnh vực buôn bán cổ vật và nghệ thuật, nhưng các hội chưa tranh thủ được.
Như vậy, nếu chiếu theo chuẩn mực đấu giá ở HongKong, Pari, Astecdam, London, Newyork, theo chỗ chúng tôi biết cần phải có những bước sau đây :
Giới thiệu hiện vật được bán qua mạng, qua catalogue với giá cả rất phải chăng, nhằm thu hút khách hàng. Giá thực của cổ vật được bán là theo giá búa. Do vậy không e ngại gì việc đặt giá ban đầu của người tổ chức. Nói ra điều này tưởng là giản đơn, nhưng bản thân chúng tôi đã phải đối đầu với dư luận, khi đặt giá cho sưu tập cổ vật Hòn Cau, bán năm 1991, do công ty đấu giá nổi tiếng Christies thực hiện, quá thấp. Có hiện vật đặt 500 USD, khi bán tới 10.000 USD. Ngoài tiếp thị như trên, một chương trình quảng bá rất rầm rộ trên báo chí, trên truyền hình, nơi công cộng... thường xảy ra một thời gian dài trước và trong khi trưng bày.
Phải trưng bày hàng tuần để khách đến tham quan. Trước khi trưng bày, các sưu tập phải được nghiên cứu khá kỹ về lịch sử, niên đại, nguồn gốc, giá trị kinh tế... Nghệ thuật trưng bày cũng vô cùng quan trọng.
Để tăng tính hấp dẫn của sưu tập hay của cuộc bán đấu giá, nhà đấu giá có nhiều kiểu tiếp thị trong quá trình trưng bày. Thí dụ: những chuyên gia gặp gỡ khách hàng, hệ thống băng đĩa tư liệu có liên quan đến sưu tập được trình chiếu liên tục, thậm chí trưng các khẩu hiệu gây niềm vinh dự đặc biệt cho người mua. Có 2 ngày đấu giá. Nghệ thuật của người bán vô cùng quan trọng. Người mua phải được đăng ký số tiền và tài khoản, tránh trả giá rồi không lấy. Làm được điều này, công ty đấu giá phải có một mạng lưới tìm hiểu. Số tiền bán được, tùy theo thoả thuận giữa các bên, ngoài thuế ra, tỷ lệ sẽ được chia, theo đó nhà bán đấu giá có thể hưởng từ 18 - 30%. Đây là số tiền được dùng cả vào việc in ấn, quảng bá. Nhưng thực ra, số tiền thu được qua bán catalogue đủ chi phí cho quảng bá. Bên mua cũng phải có phần trăm cho nhà đấu giá, bởi giá trị của hiện vật được đảm bảo bằng tem nhãn của hãng.
Nếu cần thiết, ngoài đấu giá trực tiếp, thông thường, nhà đấu giá còn sử dụng bán qua mạng. Đây chỉ là thế mạnh của một hai công ty, song cũng chỉ bán được những đồ tầm thường, vừa tiền.
Còn rất nhiều những chi tiết khác, xin được góp thêm với những người tổ chức, cho những lần bán đấu giá sau thành công hơn, có ý nghĩa văn hóa hơn, nếu như chúng tôi được hỏi ý kiến.
3. Một thị trường cổ vật ở Việt Nam
Không ai cho phép, nhưng vô hình chung, từ lâu, những đường Kim Liên, Đại Cồ Việt (Hà Nội), Đồng Khởi, Lê Công Kiều (TP.HCM) đã trở thành trung tâm buôn bán cổ vật lớn của hai thành phố vào những năm 80 thế kỷ trước. Gần đây, được rút về hai phố Lê Công Kiều và Nghi Tàm. Tôi cũng đã có dịp thăm thú và thấy rằng, mọi hoạt động ở đây, chẳng những phi pháp vì không có giấy phép kinh doanh, mà còn thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu văn hóa. Những cổ vật không được bày trang trọng, đồ giả lẫn đồ thật, ánh sáng nhạt nhòa, người bán không có trình độ... khiến cho giá trị của cổ vật bị giảm nhiều trước con mắt của du khách. Đó là chưa kể, rất nhiều cổ vật lẽ ra không được buôn bán, thì ở đây bày bán công khai.
Luật Di sản văn hóa của chúng ta đã cho phép kinh doanh buôn bán cổ vật và đã có những quy định khá chi tiết về chuẩn mực của một cửa hàng cổ vật, song dường như, các địa phương chưa thực hiện, theo đó không quản lý được thị trường này.
Ở các nước, thí dụ như Trung Quốc, có hẳn một phố bán buôn mặt hàng này, nhưng tôi thấy, nó lịch sự, trang trọng và văn hóa vô cùng. Chính điều ấy đã làm cho giá trị cổ vật tăng lên. Những cửa hàng như thế được Nhà nước cho phép kinh doanh và những mặt hàng nào được phép đưa ra khỏi biên giới cũng đã có quy định rõ ràng. Ở Thái Lan, có một trung tâm buôn bán cổ vật lớn nhất Băngkốc, với Sokhothaishop, Vietnamese ceramicshop, OcEoshop, Khơmeshop... giá cả đắt, do thuế xuất khẩu và tiền thuê cửa hàng.
Không có một đất nước nào, khi phát triển du lịch lại không có loại mặt hàng này và theo đó, sẽ có phố buôn bán chúng. Như vậy, Nhà nước thu được thuế, quản lý được cổ vật, giá trị cổ vật tăng lên, tạo được một điểm đến cho khách du lịch... Theo tôi, ở Hà Nội, Hội An, Huế, TP.HCM nên thí điểm những phố như thế, theo đúng chuẩn mực, do tư nhân quản lý nhưng được sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước. Đã có thời điểm, trước đây một số người đưa ra mô hình cửa hàng nhà nước, song sẽ không khả thi với một mặt hàng kinh doanh hết sức đặc thù này.
Ngoài những hệ thống cửa hàng, Việt Nam nên có thị trường bán đấu giá trực tiếp định kỳ, do các công ty nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm. Tôi cũng đã từng có dịp trao đổi điều này với các công ty lớn của thế giới, nhưng dường như họ thiếu mặn mà trong việc tổ chức và liên kết thực hiện các cuộc đấu giá cổ vật ở Việt Nam. Họ nói rằng, cả Á Châu, không có một nước nào đủ điều kiện cho một cuộc đấu giá lớn. Như vậy, chúng ta phải chủ động việc này, theo đó, phải có đào tạo, bồi dưỡng, học hỏi kinh nghiệm, hướng tới một hoạt động chuyên nghiệp. Để tiến tới việc này, rất cần xác định một mô hình. Mô hình ấy phù hợp với bước đi đầu tiên, nhưng cũng phải thích ứng với một quốc gia có nền kinh tế còn thấp, du lịch chưa mấy phát triển, kinh tế thị trường mới bắt đầu vận hành. Ngay cả khi những điều kiện trên đã được cải thiện, thì mô hình thích hợp cho chúng ta, nên lấy mẫu của những nhà đấu giá ở Hồng Kông, Singapor. Quy mô của những cuộc đấu giá cũng vừa phải, mang tính châu lục và khu vực.
Như thế, trước hết chúng ta phải có mô hình thích ứng, phải đào tạo đội ngũ chuyên gia trên mọi lĩnh vực của cổ vật và nghệ thuật, phải có một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, phải xây dựng được một hành lang pháp lý, một cơ chế hoạt động đồng bộ, phải điều tra, khảo sát để đặt những trụ sở ấy ở thành phố nào...
Đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ đến việc này một cách nghiêm túc và chuyên sâu, để sớm có một thị trường cổ vật theo đúng nghĩa ở Việt Nam, với bao nhiêu lợi ích mà tôi mới chỉ có đôi nét phác thảo thô vụng nêu trên.
Phạm Quốc Quân
Theo Vanhoanghethuat.org.vn
1. Những cuộc mua bán chui lủi và những cú lừa ngoạn mục
Thập kỷ 80 của thế kỷ trước, "thị trường" cổ vật sôi động ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Đồng..., những địa phương có nhiều di tích mộ, tháp cổ. Trong những phế tích tháp hay dưới lòng mộ Mường, Thái, người ta tìm thấy nhiều cổ vật quý hiếm, gồm đồ vàng, đồ bạc, đồ gốm sứ... mà những tiêu chí mách bảo, chúng đều là những đồ dùng của hoàng tộc, cung đình - chứng tích của một công trình tôn giáo quốc gia, một chủ nhân mộ là hoàng tộc hay liên quan tới hoàng tộc, mà bia ký còn ghi "Cẩm y vệ, Vĩnh Lộc hầu". Những đồ gốm vua ban tặng có chữ "xu phủ" khi ấy chẳng ai biết là đồ Nguyên hiếm quý, được bán với giá 7 chỉ vàng, trong bối cảnh phấp phỏng lo âu phải trả lại. Nhưng thông tin trở lại, nó được bán tới 30 lạng vàng. Rồi, một phù điêu Siva 7 lạng vàng, giá ban đầu vài chục triệu, lên tới 1,2 tỷ trước khi nó bị thu giữ. Hồi cố của những thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình, chuyện của 20 năm trước mà vẫn nóng hổi nuối tiếc, khi họ đào được một chiếc chum men màu thời Minh Gia Tĩnh tại một ngôi mộ. Tìm mãi mới có người mua, thì trời đã sập tối. Người bán mừng sẽ dấu được khuyết tật chiếc bình, vì lâu ngày dưới đất đã bị nứt tóc đôi chỗ. Người mua chẳng hề quan tâm, trả giá 1 lạng vàng. Người bán mừng hú vì bán được giá cao, không ngờ chiếc chum "bất thành khí" giá lại cao đến nhường ấy. Một tuần sau, cũng người thanh niên nọ lên tặng quà cho đám thanh niên dân tộc, vì anh ta đã bán được 5 lạng vàng chiếc chum và nói lại rằng, những vết nứt trên chiếc chum, anh ta có biết, nhưng không hề hấn gì với giá cả anh đã mua. Người ta bảo rằng, cổ vật ở Hòa Bình vào những năm 80 của thế kỷ trước, nhiều tới mức, phàm những gì nứt tóc đều bị coi là "bất thành khí", loại bỏ. Việc bán được chiếc chum là một trường hợp hy hữu. Thông tin đã không cho đám thanh niên biết rằng, đồ quý hiếm thì, dù có nứt tóc, mẻ vỡ cũng vô cùng giá trị.
Rồi một bộ sưu tập gốm sứ Hiệp An (Hải Dương) nổi tiếng, được thu về cho bảo tàng, nhưng còn sót lại đôi ba tiêu bản mới toanh như vừa sản xuất. Không ai biết được đó là đồ cổ thời Nguyên, với giá trị được coi là một trong những loại hiếm quý nhất thế giới hiện nay. Bản thân chủ nhà cũng không hay và người mua nó cũng không biết, trả đại 200.000đ, khoảng năm 1986. Lần mò, anh ta tìm đến một bà cụ sành điệu trong làng buôn bán cổ vật và ngã giá 8 lạng vàng. Băn khoăn, anh gọi thêm một nhóm khác, bán được 11 lạng, với sự quyên góp nhau từ dây chuyền, nhẫn và nhiều đồ trang sức khác mới đủ thanh toán. Cuối cùng chiếc đĩa bán tới giá 30.000 USD, lúc mà những người bình thường Hà Nội chưa biết mặt mũi đồng đô la là gì. Phỏng vấn chủ nhân xa xưa của món cổ vật ấy, mới biết đó là chiếc đĩa đường kính 40cm, vẽ "liên áp" - một đề tài phổ biến thời Nguyên, nhưng điểm đặc biệt, đó là đồ cung đình, hoàng tộc.
Thế kỷ trước, Việt Nam không có kỹ nghệ làm đồ giả cổ và việc giao lưu chưa rộng, nên đồ giả cổ bên ngoài vào ta không nhiều, theo đó, chưa có những cú lừa khiến dư luận bận tâm. Gần đây, do cổ vật khan hiếm, do nhu cầu xã hội tăng cao với sự xuất hiện nhiều nhà sưu tập mới, do buôn bán tiểu ngạch giữa Việt Nam và Trung Quốc mạnh mẽ hơn, nên xuất hiện nhan nhản đồ giả cổ, theo đó, không ít người khuynh gia bại sản.
Tôi có dịp vào thăm một nhà sưu tập, cả bốn tầng lầu ăm ắp "đồ cổ", nào là đồ gốm, đồ ngọc, đồ đồng..., kết quả của bao năm sưu tầm với số vốn bỏ ra hàng tỷ, do kinh doanh được từ nguồn tôm xuất khẩu. Ông say sưa giới thiệu và chúng tôi cũng say sưa nghe mà không dám phẩm bình, bởi đi cạnh ông, là người vợ ham mê, đã xuất hầu bao từ chính công sức của mình cho chồng sưu tầm. Tuy nhiên, quan sát kỹ để phân định rạch ròi giả thật trong hàng nghìn món đồ ấy, thì những cổ vật thật có lẽ không tới 1%. Vừa rồi, được thông tin từ các đồng nghiệp trong thành phố, dường như ông đã bắt đầu nhận ra mình bị lừa đảo bởi quá câu nệ vào tài liệu, sách vở mà ít cọ sát với thực tế đầy nghiệt ngã trong lĩnh vực này.
Một nhà sưu tầm đã quá cố, lúc sinh thời đã từng than thở với tôi rằng, ông đã từng bươn trải nhiều, nhưng đã bị lừa tới vài trăm triệu khi mua phải mười con dao găm cán hình người bằng đồng, làm giả dao găm Đông Sơn. Đầu tiên là một con, ông bán trôi chảy với giá 5000 USD. Khách mua động viên, có thể mua được với số lượng lớn. Tháng sau ông gặp hai con nữa và gần một năm ông có tới 10 con. Dịp khách quay trở lại Việt Nam cũng là lúc thông tin cho hay, con dao của ông là giả, khi đưa vào phòng thí nghiệm phân tích hợp kim đồng, không phải là đồng thời Đông Sơn.
Lại một tay buôn cổ vật được mệnh danh là "có sỏi" trong đầu, năm ngoái, bị một mụ đàn bà cao tay, lừa một món cổ vật giá tới hơn 1 tỷ đồng. Xem ảnh, mới biết đây là đồ copi thời Ân - Thương của Trung Quốc, được một bảo tàng của bạn phục chế theo tiêu chuẩn như thật. Gần đây, tôi có xem một tạp chí của Mỹ, nói rằng, một món đồ giả cổ được phục chế lại như thật, khiến cho các chuyên gia giám định, các máy móc phân tích hợp kim, quang phổ đều phải bó tay, thì giá của nó còn cao hơn cả đồ cổ thật. Lẽ đương nhiên, con thú "Ân - Thương" hơn 1 tỷ đồng nêu trên không đạt tới chuẩn mực ấy.
Có cả những hiện tượng "buôn trống đồng". Năm chiếc trống được thông tin trong nước và ngoài nước như là một phi vụ buôn bán trống đồng lớn nhất xưa nay ở Việt Nam, gây một ấn tượng mạnh tới dư luận công chúng. Nhìn những chiếc trống, chúng phảng phất Đông Sơn nhưng không phải Đông Sơn. Có những nhà nghiên cứu nổi tiếng nghi ngờ rằng, phải chăng đây là một loại hình mới của trống đồng mà chúng ta cần bổ sung cho nhận thức của nhà học giả Áo F.Heger trước đây? Chúng có thể có niên đại vào thời Đông Hán, thế kỷ I - III, bởi những hoa văn trang trí rất gần với tranh vách đá (Rock Paiting) có niên đại tương đồng ở Quảng Tây (Trung Quốc). Phân tích thành phần hợp kim theo phương pháp quang phổ định tính và định lượng, mới hay, chúng không có một chút phần trăm chì, thiếc, mà có rất nhiều phần trăm nhôm. Đó không phải là hợp kim đồng cổ, đó là đồng công nghiệp, đồng vỏ đạn.
Cơn sốt đồ gốm sứ xanh trắng Huế (Blue de Hue) bỗng dưng tăng nhiệt sau khi Huế được công nhận là di sản văn hóa thế giới, sau khi cuộc bán đấu giá thành công những món đồ tương tự tại Pari và sau những giá cả như mơ do mác hiệu hoàng tộc của nhiều món cổ vật đem lại. Lập tức lò Cảnh Đức Trấn Giang Tây (Trung Quốc) có tín hiệu trả lời. Hàng loạt đồ "Nội phủ thị trung", "Nội phủ thị hữu" "Khánh Xuân".v.v... được sản xuất đưa qua Việt Nam, gia công thêm cho có màu thời gian, đã khiến cho biết bao nhà sưu tập bị lừa gạt, với giá 2-3000 USD 1 chiếc đĩa đường kính 28-30 cm. Quả thật, sẽ vô cùng khó nhận biết, nếu người mua không hay sự "vô nguyên tắc" trong lối thư họa hiện nay mà xưa kia vua Lê chúa Trịnh đặt làm đâu phải thế ! Cũng trong cơn sốt đồ hoàng tộc triều Nguyễn này, còn một loại cổ vật nữa, đó là những đồng tiền bạc. Tiền bạc có ghi niên hiệu Tự Đức khá hiếm trong dân gian, nên giá cả của nó khá cao, khoảng 10-15 triệu một đồng. Gần đây, cũng lấy những đồng tiền bạc cũ như thế, người làm giả dập niên hiệu Tự Đức, khiến cho kỹ thuật ấy khác hẳn với kỹ thuật đúc, theo đó, người am tường dễ dàng nhận ra, song đã lừa được khá nhiều người sưu tập, trong khi giá trị thực của nó khoảng 1,5-2 triệu đồng. Tiền Việt Nam hiện nay, có đồng giá tới 30.000 USD. Vài đồng như vậy bị giả, quả là khuynh gia bại sản.
Có lẽ tôi đã hơi lạm dụng để đưa ra nhiều ví dụ, khiến bạn đọc không mấy hài lòng. Thế nhưng, đó như là một bối cảnh để đề cập tới sự cần thiết phải ra đời một thị trường cổ vật theo đúng nghĩa ở Việt Nam, với những lợi ích không chỉ khắc phục được thị trường chui lủi và tình trạng lường gạt như đã nêu, mà sẽ còn nhiều hơn thế dưới những cách nhìn khác nhau.
2. Một vài cuộc bán đấu giá công khai
Không phải gần đây, Việt Nam mới bán đấu giá cổ vật. Vài thập niên đầu của thế kỷ trước, khi người Pháp mở những hội chợ ở Hà Nội, Hà Đông, Nam Định..., ngoài những mặt hàng thông thường, cổ vật cùng được bán đấu giá và thu hút được sự quan tâm của công chúng. Những trống đồng Ngọc Lũ, thạp tám múi hoa nâu... hiện đang lưu giữ và phát huy ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, chính là những sản phẩm thu được từ những cuộc bán đấu giá ấy. Như vậy, việc trở lại bán đấu giá cổ vật hiện nay, có lẽ, không có mấy sự lạ lẫm, hơn thế, khá phù hợp với trào lưu chung của thế giới và nhu cầu ngày một tăng lên của mọi tầng lớp nhân dân.
Vì lẽ đó, một số hội cổ vật như Hà Nội, Thiên Trường, Thanh Hoa... đã bắt đầu khai mở với danh nghĩa khiêm tốn "giao lưu, trao đổi cổ vật" đầu xuân. Tôi cũng đã được chứng kiến một hai cuộc đấu giá từ các hội này và nhận ra rằng, cách làm của họ, chỉ như là một hình thức giao lưu thì có thể chấp nhận được. Nhưng, nếu coi đây như là những cuộc bán đấu giá, dù là thí điểm, còn rất nhiều vấn đề phải bàn. Chính vì lẽ đó, không ít báo chí đã có lời khen, chê, theo đó, đã có nhiều sự phân tán trong suy nghĩ của những người thực hiện, gây một sự hoảng loạn, thiếu tin tưởng ở tương lai. Là một người được chứng kiến, xin mạo muội đưa ra cái được và chưa được từ những cuộc "đấu giá" này. Theo tôi, mặt tích cực vẫn là chủ yếu. Cổ vật được đem bán công khai, theo đó, nguồn gốc, lý lịch là tương đối trong sạch, không phải là đồ lấy cắp từ các đình chùa, đền miếu: Các cổ vật đều được giám định, cho dù kết quả giám định còn phụ thuộc vào trình độ của người thực hiện, song đã không có đồ giả ở trong đó. Số tiền thu được, mặc dù chưa được đóng thuế, nhưng đã được đưa vào quỹ hội, quỹ nạn nhân chất độc màu da cam, quỹ người nghèo, quỹ nạn nhân sóng thần. Cả người mua lẫn người bán đều tự nguyện quyên tặng. Thông tin từ đấu giá đã cho các bảo tàng biết cần sưu tầm gì, các nhà quản lý cần điều chỉnh gì trong lưu thông cổ vật hiện nay. Tôn vinh được những người sưu tập thông qua "đấu giá" và chính họ là những người bảo quản, bảo tồn, lưu giữ, tránh sự chảy máu, thất thoát cổ vật ra nước ngoài. Nhân rộng được người sưu tập, tạo nên một khả năng vô tận để gìn giữ, bởi bất cứ một quốc gia nào, dù giàu có đến đâu, cũng không thể mua được tất cả cổ vật, nếu không trông chờ vào khả năng xã hội hóa này.
Bên cạnh mặt tích cực, cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Dường như sự chuẩn bị của Ban tổ chức chưa thấu đáo do thiếu kinh nghiệm lĩnh vực này, khiến cho khâu quảng bá, tiếp thị, giám định, trưng bày... hầu như không có trong một cuộc bán đấu giá, trong khi đây là những yếu tố vô cùng quan trọng dẫn đến thành công. Việc đặt giá cũng tùy tiện và thiếu tính hấp dẫn. Nghệ thuật bán hàng quá yếu, không tạo nên một sự sôi động cần thiết cho loại mặt hàng kén khách như cổ vật. Rất nhiều cổ vật có nguồn gốc khảo cổ học, theo luật định, không được mua bán, trao đổi, lẽ ra phải được loại bỏ hay hạn chế tới mức tối đa, nhưng Ban tổ chức chưa làm được.
Những hạn chế mà tôi lược dẫn trên đây là một tất yếu, xuất phát từ thiếu kinh nghiệm và kiến thức ở buổi đầu chập chững, với một cách làm "tự biên, tự diễn", không có một công ty trung gian, có chút ít kinh nghiệm thực hiện. Những công ty có lịch sử vài trăm năm như Christies, Sotheby, Butterfiled... không dám nói, nhưng ở Việt Nam, đã có, dù chưa chuyên nghiệp trong lĩnh vực buôn bán cổ vật và nghệ thuật, nhưng các hội chưa tranh thủ được.
Như vậy, nếu chiếu theo chuẩn mực đấu giá ở HongKong, Pari, Astecdam, London, Newyork, theo chỗ chúng tôi biết cần phải có những bước sau đây :
Giới thiệu hiện vật được bán qua mạng, qua catalogue với giá cả rất phải chăng, nhằm thu hút khách hàng. Giá thực của cổ vật được bán là theo giá búa. Do vậy không e ngại gì việc đặt giá ban đầu của người tổ chức. Nói ra điều này tưởng là giản đơn, nhưng bản thân chúng tôi đã phải đối đầu với dư luận, khi đặt giá cho sưu tập cổ vật Hòn Cau, bán năm 1991, do công ty đấu giá nổi tiếng Christies thực hiện, quá thấp. Có hiện vật đặt 500 USD, khi bán tới 10.000 USD. Ngoài tiếp thị như trên, một chương trình quảng bá rất rầm rộ trên báo chí, trên truyền hình, nơi công cộng... thường xảy ra một thời gian dài trước và trong khi trưng bày.
Phải trưng bày hàng tuần để khách đến tham quan. Trước khi trưng bày, các sưu tập phải được nghiên cứu khá kỹ về lịch sử, niên đại, nguồn gốc, giá trị kinh tế... Nghệ thuật trưng bày cũng vô cùng quan trọng.
Để tăng tính hấp dẫn của sưu tập hay của cuộc bán đấu giá, nhà đấu giá có nhiều kiểu tiếp thị trong quá trình trưng bày. Thí dụ: những chuyên gia gặp gỡ khách hàng, hệ thống băng đĩa tư liệu có liên quan đến sưu tập được trình chiếu liên tục, thậm chí trưng các khẩu hiệu gây niềm vinh dự đặc biệt cho người mua. Có 2 ngày đấu giá. Nghệ thuật của người bán vô cùng quan trọng. Người mua phải được đăng ký số tiền và tài khoản, tránh trả giá rồi không lấy. Làm được điều này, công ty đấu giá phải có một mạng lưới tìm hiểu. Số tiền bán được, tùy theo thoả thuận giữa các bên, ngoài thuế ra, tỷ lệ sẽ được chia, theo đó nhà bán đấu giá có thể hưởng từ 18 - 30%. Đây là số tiền được dùng cả vào việc in ấn, quảng bá. Nhưng thực ra, số tiền thu được qua bán catalogue đủ chi phí cho quảng bá. Bên mua cũng phải có phần trăm cho nhà đấu giá, bởi giá trị của hiện vật được đảm bảo bằng tem nhãn của hãng.
Nếu cần thiết, ngoài đấu giá trực tiếp, thông thường, nhà đấu giá còn sử dụng bán qua mạng. Đây chỉ là thế mạnh của một hai công ty, song cũng chỉ bán được những đồ tầm thường, vừa tiền.
Còn rất nhiều những chi tiết khác, xin được góp thêm với những người tổ chức, cho những lần bán đấu giá sau thành công hơn, có ý nghĩa văn hóa hơn, nếu như chúng tôi được hỏi ý kiến.
3. Một thị trường cổ vật ở Việt Nam
Không ai cho phép, nhưng vô hình chung, từ lâu, những đường Kim Liên, Đại Cồ Việt (Hà Nội), Đồng Khởi, Lê Công Kiều (TP.HCM) đã trở thành trung tâm buôn bán cổ vật lớn của hai thành phố vào những năm 80 thế kỷ trước. Gần đây, được rút về hai phố Lê Công Kiều và Nghi Tàm. Tôi cũng đã có dịp thăm thú và thấy rằng, mọi hoạt động ở đây, chẳng những phi pháp vì không có giấy phép kinh doanh, mà còn thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu văn hóa. Những cổ vật không được bày trang trọng, đồ giả lẫn đồ thật, ánh sáng nhạt nhòa, người bán không có trình độ... khiến cho giá trị của cổ vật bị giảm nhiều trước con mắt của du khách. Đó là chưa kể, rất nhiều cổ vật lẽ ra không được buôn bán, thì ở đây bày bán công khai.
Luật Di sản văn hóa của chúng ta đã cho phép kinh doanh buôn bán cổ vật và đã có những quy định khá chi tiết về chuẩn mực của một cửa hàng cổ vật, song dường như, các địa phương chưa thực hiện, theo đó không quản lý được thị trường này.
Ở các nước, thí dụ như Trung Quốc, có hẳn một phố bán buôn mặt hàng này, nhưng tôi thấy, nó lịch sự, trang trọng và văn hóa vô cùng. Chính điều ấy đã làm cho giá trị cổ vật tăng lên. Những cửa hàng như thế được Nhà nước cho phép kinh doanh và những mặt hàng nào được phép đưa ra khỏi biên giới cũng đã có quy định rõ ràng. Ở Thái Lan, có một trung tâm buôn bán cổ vật lớn nhất Băngkốc, với Sokhothaishop, Vietnamese ceramicshop, OcEoshop, Khơmeshop... giá cả đắt, do thuế xuất khẩu và tiền thuê cửa hàng.
Không có một đất nước nào, khi phát triển du lịch lại không có loại mặt hàng này và theo đó, sẽ có phố buôn bán chúng. Như vậy, Nhà nước thu được thuế, quản lý được cổ vật, giá trị cổ vật tăng lên, tạo được một điểm đến cho khách du lịch... Theo tôi, ở Hà Nội, Hội An, Huế, TP.HCM nên thí điểm những phố như thế, theo đúng chuẩn mực, do tư nhân quản lý nhưng được sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước. Đã có thời điểm, trước đây một số người đưa ra mô hình cửa hàng nhà nước, song sẽ không khả thi với một mặt hàng kinh doanh hết sức đặc thù này.
Ngoài những hệ thống cửa hàng, Việt Nam nên có thị trường bán đấu giá trực tiếp định kỳ, do các công ty nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm. Tôi cũng đã từng có dịp trao đổi điều này với các công ty lớn của thế giới, nhưng dường như họ thiếu mặn mà trong việc tổ chức và liên kết thực hiện các cuộc đấu giá cổ vật ở Việt Nam. Họ nói rằng, cả Á Châu, không có một nước nào đủ điều kiện cho một cuộc đấu giá lớn. Như vậy, chúng ta phải chủ động việc này, theo đó, phải có đào tạo, bồi dưỡng, học hỏi kinh nghiệm, hướng tới một hoạt động chuyên nghiệp. Để tiến tới việc này, rất cần xác định một mô hình. Mô hình ấy phù hợp với bước đi đầu tiên, nhưng cũng phải thích ứng với một quốc gia có nền kinh tế còn thấp, du lịch chưa mấy phát triển, kinh tế thị trường mới bắt đầu vận hành. Ngay cả khi những điều kiện trên đã được cải thiện, thì mô hình thích hợp cho chúng ta, nên lấy mẫu của những nhà đấu giá ở Hồng Kông, Singapor. Quy mô của những cuộc đấu giá cũng vừa phải, mang tính châu lục và khu vực.
Như thế, trước hết chúng ta phải có mô hình thích ứng, phải đào tạo đội ngũ chuyên gia trên mọi lĩnh vực của cổ vật và nghệ thuật, phải có một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, phải xây dựng được một hành lang pháp lý, một cơ chế hoạt động đồng bộ, phải điều tra, khảo sát để đặt những trụ sở ấy ở thành phố nào...
Đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ đến việc này một cách nghiêm túc và chuyên sâu, để sớm có một thị trường cổ vật theo đúng nghĩa ở Việt Nam, với bao nhiêu lợi ích mà tôi mới chỉ có đôi nét phác thảo thô vụng nêu trên.
Phạm Quốc Quân
Theo Vanhoanghethuat.org.vn